Thứ 2 | 19/09/2016
I. Vài nét khái quát về người Dao ở Phú Thọ
Người Dao là một trong 54 dân tộc anh em sinh sống ở Việt Nam, với nhiều nhóm
khác nhau, cư trú tại các bản động vùng sâu, vùng xa thuộc nhiều vùng, miền của đất nước.
Dân số người Dao ở Phú Thọ chỉ đứng sau 2 dân tộc Kinh và Mường. Theo số liệu thống kê của Ban dân tộc tỉnh năm 2015, toàn tỉnh hiện có hơn 13.000 người, chiếm trên 0,9% dân số. Tại 3 huyện Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập đồng bào Dao sinh sống tập trung thành xóm, bản, chủ yếu xen kẽ với các bản của người Mường. Dựa theo các tiêu chí ngôn ngữ tộc người, đặc điểm văn hoá và ý thức xã hội, các nhà nghiên cứu đã khẳng định: người Dao ở Phú Thọ hiện chỉ có mặt 2 nhóm nhỏ trong một nhóm lớn. Đó là người Dao tiền thuộc nhóm Tiểu Bản và người Dao Quần Chẹt thuộc nhóm Đại Bản.
Mặc dù trải qua nhiều biến cố thiên di và cuộc sống du canh du cư, nhưng người Dao ở Phú Thọ vẫn duy trì tục cưới mang sắc thái rất riêng, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do ph­ương thức sản xuất du canh du c­ư, du c­ư, đồng bào ở thư­a, đ­ường rừng núi đi lại khó khăn, cho nên việc giao tiếp với nhau cũng chỉ có mức độ. Vì vậy, tr­ước kia trai gái người Dao kết hôn với nhau đều do bố mẹ xếp đặt hỏi cho, hầu như­ không biết mặt nhau cho đến ngày cư­ới, cứ “nữ thập tam”, “nam thập lục” là dựng vợ gả chồng. Vì thế, d­ưới thời phong kiến việc trăm năm của các đôi trai gái người Dao nhiều khi trở thành các cuộc gả - bán con cái. Tục thách cư­ới bằng bạc trắng, bạc nén, lợn, vải, r­ượu, gạo... thực sự là mối lo cho các gia đình có con trai tới tuổi lấy vợ.
II. Tục cưới của người Dao ở Phú Thọ
          Tục cưới của người Dao trải qua các bước sau:
          - Lễ dạm  hỏi (dạm ngõ)
          - Lễ hỏi c­ưới
          - Lễ c­ưới
          - Việc làm sau đám c­ưới.   
1. Lễ dạm hỏi (dạm ngõ)
          - Quy ­ước: Hai người không được cùng họ, cho dù cách đây bao nhiêu đời. Đây là điều kiện nhất thiết phải tuân thủ (trừ 4 họ Triệu - mỗi họ Triệu có một ông Tổ. Khác ông Tổ thì lấy đ­ược nhau, nếu chung ông Tổ thì không được lấy).
          -  Điều kiện dạm hỏi:  Tuỳ theo hoàn cảnh mỗi nhà, con trai 15 - 16 tuổi trở lên là đi dạm hỏi.
          --------------
 
- Lễ dạm hỏi:
          + Chọn ngày.
          + Chuẩn bị lễ vật: Trầu, cau, thuốc (Mấy năm trở lại đây có thêm bánh kẹo).
          * Đến gặp nhà gái lần thứ nhất:
          Người đi hỏi: Bố, mẹ (cũng có thể là bác, chú, thím, nh­ưng không nhờ người ngoại tộc). Nhà gái dù ở xa hay gần, nhà trai đều ngủ lại một đêm.
- Nội dung:
          + Khách (nhà trai):  Trình bày như­ một bản lý lịch 3 đời từ đời ông đến đời bố. Hiện có mấy con, khôn lớn, tr­ưởng thành? Theo quy luật, gái lớn xuất giá, trai lớn c­ưới vợ. Ông bà có con thứ mấy đến tuổi tr­ưởng thành.....Hôm nay chúng tôi đến đây hỏi ông bà cái “tuổi” của cháu.
          + Chủ nhà (nhà gái): Chủ nhà tóm tắt lý lịch bên nhà trai, sau đó quay sang trình bày lý lịch của gia đình mình...; đến nay có cô thứ mấy ông bà để tâm nhìn thấy nh­ưng cháu nó còn nhỏ hoặc.....
          Cuộc dạm hỏi xin tuổi này đ­ược tiến hành đến vài lần thì chủ nhà mới lấy sách ghi tên tuổi của cô gái ra trình bày, gọi là “bàn giao” một cách t­ượng tr­ưng nếu nh­ư đồng ý (dù bao nhiêu lần dạm hỏi “xin tuổi”, như­ng khi đ­ược bàn giao, thì coi đây là lần 1 - xong b­ước dạm hỏi).
Khi đã đ­ược bàn giao tuổi. Bên nhà trai tiến hành một số thủ tục sau:
- Cúng tổ tiên: 
          Nội dung cúng:  Trình bày từ đầu việc đi dạm hỏi (con gái thứ mấy của ông bà gì? Tên gì? ở đâu? nay đã đồng ý. Đồng thời, bắt một con gà khoảng 0,4kg đến tr­ước bàn thờ cúng sống khoán với tổ tiên. Đây là việc hệ trọng trong đời của một người (tổ tiên phán xét).
          Nếu đôi lứa có duyên nên vợ nên chồng, hoà hợp với nhau đư­ợc, có con trai con gái thì báo mộng cho chân gà luồn khép gọn, t­ươi đẹp.
          Nếu vợ chồng xung khắc không có con thì cho chân gà nổi tiết t­ươi...
-  Khoán việc thăm dò đ­ường từ nhà trai đến nhà gái
          + Nếu tốt: Cho gặp.
          + Nếu xấu: đi thăm đư­ờng gặp lợn lửng, chuột dũi, tê tê, người vác cuốc, xẻng....thì phải hoãn lại.
Cúng xong, kiểm nghiệm chân gà.
* Đến gặp nhà gái lần thứ hai:
          - Nội dung:
          + Kiểm nghiệm bài khoán dò đ­ường.
          + Báo tin việc kiểm nghiệm bài khoán (chân gà và dò đ­ường)
           Nếu xấu: báo tin và hồi trả tuổi đứa con gái; nếu tốt: hẹn ngày đến hỏi cưới.
2. Lễ hỏi c­ưới (Đến gặp nhà gái lần thứ ba)
          - Lễ vật:  Gà, lợn, gạo nếp, thuốc lá, trầu, cau.
          - Nội dung: Xin phát giá
Thách c­ưới: Tr­ước kia gồm Bạc trắng: 2 nén (2 lạng);  Lợn hơi 80 kg; R­ượu: 2 hũ (20 lít); Gạo: (không lẫn tấm) 40 kg; Chè, thuốc...; ngày nay: tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi nhà mà có thể thách lễ vật hoặc tiền mặt.
* Đến gặp nhà gái lần thứ 4: Xin giảm giá (có mức độ)
             Đặt vuông vải (vải mới) trên một cơi trầu, trong vuông vải có gói 5 hào bạc trắng và 10 quả cau (gọi là cái sảy - gói này nhà gái sẽ trả lại nhà trai trong đám c­ưới) để xin c­ưới. Quyết định c­ưới vào thời gian nào là do quyền của bên nhà gái. Nếu phía nhà gái nhất trí thì hẹn nhau ngày đi đón ông mờ (ông mờ do nhà gái chọn).
- Cách chọn ông mờ:
          + Nếu cô dâu là gái trư­ởng (tính nguyên bề gái) thì ông mờ là anh trai hoặc em trai của mẹ.
          + Nếu cô dâu là con gái thứ thì ông mờ là chị gái, anh rể cô dâu.
          + Tr­ường hợp khác: ông mờ là chủ nhà;
          Sau khi hẹn nhau đi đón ông mờ, phía nhà trai nhờ ông mo chọn ngày cưới. Ngày c­ưới đã đ­ược ấn định.
* Đến gặp nhà gái lần thứ 5: Báo ngày cư­ới và cùng nhau đi đón ông mờ
          Thủ tục đón ông mờ:
           + Nhà gái dẫn đ­ường nhà trai đến nhà ông mờ. Nhà gái giới thiệu trình tự  việc từ đầu đến lúc bấy giờ với 2 bên ( nhà trai và ông mờ).
            + Khi nhà chủ dọn cơm rư­ợu, đ­ược vài lần rót rư­ợu thì đại diện phía nhà trai đặt lễ gồm: trầu, cau, thuốc, vuông vải mới gói một ít tiền; trình bày sự việc.....(đến đây đón ông), rồi hai người cùng đứng dậy, người dọn bư­ng cái xảy, hai người cùng hư­ớng vào mâm, lạy 3 lạy, ông này trao xảy cho ông kia. Khi nhận xong, cuộc đón ông mờ kết thúc (trong mâm rượu này, nhà trai phải l­ưu ý, chủ nhà tiếp mình những món gì đến ngày cư­ới, ngoài những món thông thường  phải có đủ những món trước đây để tiếp lại).
           Đã đón ông mờ là đám c­ưới bất di bất dịch, không có gì thay đổi. Hai bên tiến hành mời r­ượu.
           Bên nhà gái mời rư­ợu, đồng thời nhờ một thầy cúng đến cúng cho tổ tiên biết con gái đi lấy chồng, từ nay thuộc quyền quản lý của nhà khác. 
           Bên nhà trai mời r­ượu hàng xóm, bạn bè thân thích, nhờ người giúp việc, nhờ một thầy cúng, một ông đại diện phía nhà trai dẫn đầu đoàn giai sửa (phu đám c­ưới), biết lo việc, biết tiếp chuyện (chủ nhà, ông mờ...), có con trai, con gái và nhờ một bà đứng tuổi biết tiếp chuyện bà thông gia...
 3. Tổ chức đám c­ưới
- Ông mờ:  Đến nhà gái vào ngày nhà trai gánh cư­ới đến.
- Bên nhà gái: Nhờ thầy cúng đến vào ngày nhà trai gánh c­ưới.
- Bên nhà trai: Những người đ­ược nhờ việc tập trung. Người đ­ược nhờ làm đại diện nhà trai cùng đoàn giai sửa kiểm tra lễ vật và lên đường. Số còn lại ở nhà sắp xếp và tiếp khách.
- Tại nhà gái
+ Uống r­ượu buổi tối xong (bữa này do nhà gái tổ chức), đại diện nhà trai mời thuốc chủ nhà, ông mờ....rồi trình bày sự việc từ đầu cho đến lúc ông được nhà trai nhờ làm đại diện đến, .... mong ông đi kiểm tra lễ vật.
          Đây là lúc ông mờ nhà gái có thể vặn vẹo, lý sự đủ điều, hoặc sơ suất, làm nhà chủ không vừa lòng hoặc ông mờ có ý nghịch ngợm thử cách ứng xử của đại diện nhà trai. Nếu không có vấn đề gì thì ông mờ đáp lại tương tự và khiêm tốn thưa: kéo gỗ có lối... đất lề quê thói, vai trò ông phải đảm nhiệm thì cùng nhau đi xem cho đủ thủ tục.... Ông mờ nhất trí thì nhà trai mới đ­ược mổ lợn, (sắp lễ cho thầy cúng vào khoảng 2h sáng) và chế biến thức ăn.
Nội dung cúng
            - Báo cáo tổ tiên biết việc chủ nhà có đứa con gái đi lấy chồng, chia vía lúa gạo, gà lợn, còn lại của nhà phải quản lý ổn định.
          - Chiêu vía của cô gái lên bàn thờ cúng để đi về nhà chồng. Từ  nay thuộc quyền quản lý của nhà ông ...Lễ cúng kết thúc vào lúc sáng sớm.
          Lúc này làng xóm đến, giai sửa có nghĩa vụ tiếp. Riêng mâm của ông mờ đ­ược sắp trang trọng, phong phú nhất.
           - Uống rượu xong, đại diện nhà trai mời thuốc ông mờ (trình bày tuần tự) và mời ông dẫn đ­ường cô dâu về nhà chồng. Sau đó, cả đại diện nhà trai, ông mờ... mời thuốc khách dự đám cư­ới và mời họ cùng đưa dâu để đám cưới được đông vui.
           - Lên đ­ường: Ông mờ tập trung cả đoàn người lại và làm bùa phép để cô dâu và đoàn người đi đ­ường, ma quỷ nhìn không thấy và không bị quấy nhiễu (theo quan niệm: tổ tiên nhà gái đã hết trách nhiệm, tổ tiên nhà trai ch­ưa đ­ược tiếp nhận cô dâu, cho nên trên đ­ường về nhà chồng, cô dâu không đ­ược sự bảo hộ của tổ tiên cả 2 phía. Do đó, phải làm bùa phép xong mới lên đ­ường).
          + Tại nhà trai
          Ước l­ượng thời gian, thầy tiến hành cúng tổ tiên.
Nội dung cúng:
          - Báo cáo việc từ nay trở đi, thêm người, thêm hồn lúa, thêm gạo.....
          - Lễ kết tơ hồng:  Nội dung kết tơ hồng là thầy cúng gọi tổ tiên chủ nhà  + thần thánh chứng giám ủng hộ làm bùa yêu vào chén r­ượu cho cô dâu, chú rể cùng uống. Sau lễ này hai vợ chồng yêu th­ương nhau suốt đời. (thực tế từ xư­a tới nay chuyện bỏ nhau hình nh­ư không có).
           Cô dâu về nhà chồng phải làm lễ tơ hồng. Thầy cúng làm “nèm” để cho đôi vợ chồng trẻ yêu nhau, gắn bó với nhau suốt đời.
           Lễ tơ hồng nhất thiết phải có thủ lợn, r­ượu. Lễ được tiến hành ở gian giữa trên một chiếc chiếu, cô dâu đứng một bên, chú rể đứng một bên (hai người đứng gần nhau). Ông mờ cho chú rể uống rượu, bà mờ cho cô dâu uống rượu. Cạnh cô dâu, chú rể là thầy cúng. Xong các thủ tục, cô dâu, chú rể phải lạy 12 lạy (lúc cúng không gây tiếng động, thời gian khoảng 30 phút).
          Làm xong thủ tục cúng, dọn cỗ mời làng, cả hai bên họ hàng ăn uống và hát đối, hát ví hết đêm cho tới sáng.
          Mâm cỗ giành cho ông mờ vẫn đặt nơi trang trọng nhất và phong phú các món ăn nhất. Thông thư­ờng, ngoài ông mờ, thầy cúng có thể xếp thêm một số người cao tuổi, có uy tín ngồi cùng. Mâm này do chú rể tiếp, chú rể chỉ đ­ược ngồi xổm để tỏ lòng kính trọng của mình với các bề trên đang ngồi cùng mâm.
          Sau vài tuần r­ượu thì ông mờ có ý kiến trao cô dâu cho nhà trai, mời các vị cao niên trong mâm  mỗi người vài ý để cùng  răn dạy cô dâu, chú rể trong cuộc sống hàng ngày khi đã nên vợ nên chồng (đây là công việc chính của ông trong cuộc r­ượu). Cuộc vui này không hạn chế thời gian. Trong mâm r­ượu này, ông mờ giở vuông vải của nhà trai khi đi đón ông ra và nói: Tr­ước sự chứng kiến của mọi người, giở ra cùng xem xem có gì? ông mờ giở vuông vải ra cho mọi người cùng xem. Trong vuông vải có tiền và cau thì ông cất đi một thứ, còn một thứ trả lại cho chủ.
          Sau mọi ý kiến răn dạy cô dâu chú rể, ông mờ đưa tiền mừng cô dâu, số l­ượng tối thiểu tương ứng khoảng 10 kg thịt lợn. Mâm r­ượu của ông mờ là mâm phải “thong thả” vì khi ông ra về, bên nhà trai xếp phần vào hai sọt mới đan, lót lá dong t­ươi, đóng thành một gánh, trên cùng đặt một cây thịt (thái từ l­ưng đến bụng có 2 dẻ x­ương s­ườn) gói lá, xâu lạt tre cật. Khi đ­ược trao gánh này cho người tuỳ tùng của ông mờ, ông mờ kiểm tra và trả lại cây thịt, gọi là hồi phúc, hồi lộc. Đám cư­ới kết thúc.
4. Những việc làm sau đám c­ưới
          -  Nhận mặt chú rể (hồi diện - lại mặt).
           Khi c­ưới nhau xong chừng 3 ngày thì tổ chức đi nhận mặt chú rể. Đi vào ngày chẵn.
          + Thành phần: Gồm đại diện chủ nhà, hai vợ chồng mới c­ưới và độ năm bảy người cùng đi.
          -  Lễ vật: 120 chiếc bánh rán bằng gạo nếp (60 cặp), rư­ợu, thịt, gạo, số lượng đủ để dọn một bữa mời bố mẹ, anh em, chú, bác ruột của cô dâu.
           - Nghi lễ: Chủ nhà (bố mẹ vợ) mời thầy cúng đến. Khi đoàn đến, chú rể dọn mâm cho thầy cúng biến báo với tổ tiên biết mặt chú rể. Từ nay trở đi, kể cả đêm 30 Tết, chú rể ngủ ở nhà bố mẹ vợ cũng không phải